Tổng kết kháng sinh- nhóm aminoglycosid

  1. Nhóm aminoglycosid

2.1. Sự hập thu

AG không hay rất it hấp thụ ở đường tiêu hoá. Cần thiết phải tiêm bắp hay tiêm tĩnh

mạch để chữa bệnh không phải ở đường tiêu hoá. Có thể dùng các đường thuốc khác như:

phúc mạc, bàng quang, kết mạc, khí dung, nhưng không được dùng neomycin, framycetin,

paromomycin theo các đường trên.

Tiêm bắp AG hấp thu nhanh, đạt nồng độ cao trong huyết tương sau 1-2 giờ. Thuốc

được hấp thu 100%. Thời gian bán thải t1/2 cho mọi AG khoảng 24 giờ. Tiêm tĩnh mạch 1

lần, AG phân theo 3 pha: pha hấp thu rất nhanh, pha thải trừ chậm, pha sâu (pha tích luỹ-trừ

Streptomycin). AG tích luỹ ở vỏ thận có thể kéo dài 60-100 giờ. Nhất là khi thận bị viêm

hay tiêm nhắc lại.

2.2 Phân bố

Các aminoglucosid (AG) gắn dễ dàng với protein – huyết thanh vào dịch não tuỷ.

Khi viêm màng não, nó thấm vào nhiều hơn. Nếu tiêm đồng thời vào não thấp và tĩnh mạch

thuốc sẽ đạt hàm lượng hữu hiệu chữa bệnh trong 11-18 giờ liền.

73

Khi bị bệnh ở phổi, vì nồng độ AG trong phổi luôn thấp hơn MIC (minimal

inhibitated concentration) của nhiều chủng vi khuẩn gây viêm phổi, phế quản phổi. Vậy với

bệnh đường hô hấp nên dùng theo phương pháp khí dung, nhỏ mũi hay tiêm tĩnh mạch.

Thuốc khuếch tán tốt qua nhau thai, dịch cổ trướng, dịch phế mạc, dịch ngoài tim ít

vào mỡ, xương.

2.3 Thải trừ

Nếu tiêm, phần lớn các AG thải qua nước tiểu dưới dạng nguyên chưa chuyển hoá

còn hoạt tính. Thuốc luôn có nồng độ cao trong nước tiểu, thải nhanh trong 24 giờ đầu từ

80-90% qua cầu thận. Rất ít qua mật. Không có chu kỳ gan – ruột (gentamycin,

tobramycin). Nếu suy thận sẽ làm thay đổi sự thải trừ AG, khi đó t1/2 của thuốc sẽ tăng lên

gấp 20-30 lần so với bình thường.

Nếu uống, gần như không được hấp thu qua đường tiêu hoá (chỉ khoảng 10%) trừ các

thuốc gentamicin và tobramycin.

Các AG đều gây hiện tượng tích luỹ thuốc ở cầu thận. Tại các quản cầu thận, nồng

độ AG lớn gấp 2 – 3 lần so với tuỷ thận và gấp 20 – 30 lần nồng độ cao nhất trong huyết

thanh. Do thuốc gắn chặt vào các tế bào trên quản cầu thận, nên gây hiện tượng tích luỹ

nhiều tuần sau khi ngưng thuốc.

2.4 Phân loại

Kháng sinh đầu tiên của nhóm aminoglycosid là streptomycin được tách chiết nǎm 1944 và ngay sau đó người ta đã thấy hiệu quả của thuốc trong điều trị bệnh lao. Nǎm 1949, người ta tách được neomycin, tiếp theo là kanamycin nǎm 1957. Nǎm 1959, một aminoglycosid khác ít được biết tới là paronomycin được triển khai. Ngày nay, bốn aminoglycosid này ít được dùng do tính khả dụng của gentamycin (1963), tobramycin (1975) và amikacin (1976). Gentamicin được sử dụng rộng rãi nhất vì thuốc đã có ở dạng thuốc gốc và do đó rẻ hơn nhiều so với tobramycin hoặc amikacin. Việc sử dụng streptomycin và neomycin giảm còn do nguy cơ gây độc nặng cho tai, mặc dù các chất mới hơn cũng biểu hiện khả nǎng gây độc này. Neomycin chỉ được dùng đường uống trong điều trị bệnh não gan vì độc tính quá cao khi dùng ngoài đường tiêu hóa hoặc rửa tại chỗ. Paronomycin hiện nay chủ yếu được dùng như một thuốc chống ký sinh trùng đường ruột trong điều trị bệnh amip, giardia, cestodia, leishmania da cũng như cryptosporidio ở bệnh nhân AIDS.

2.5 Cơ chế tác dụng: Mặc dù đã nghiên cứu nhiều nǎm, song vẫn chưa rõ các aminoglycosid làm chết tế bào vi khuẩn như thế nào. Người ta biết rằng các aminoglycosid gắn kết vững chắc với một trong hai vị trí gắn aminoglycosid trên tiểu phân 30S của ribosom, kết quả là thuốc ức chế tổng hợp protein của vi khuẩn. Tuy nhiên sự ức chế này không đủ để giải thích cho tác dụng làm chết vi khuẩn của các aminoglycosid, vì các kháng sinh khác không phải aminoglycosid cũng ức chế tổng hợp protein lại chỉ có tác dụng kìm khuẩn. Một khía cạnh tối quan trọng đối với khả nǎng diệt khuẩn của aminoglycosid là cần đạt được nồng độ nội bào vượt quá nồng độ ngoại bào. Các vi khuẩn kị khí không nhạy cảm với aminoglycosid một phần là do chúng không có cơ chế vận chuyển tích cực để hấp thu aminoglycosid.

Các aminoglycosid biểu hiện “khả nǎng diệt phụ thuộc nồng độ” và “hiệu ứng sau kháng sinh” (PAE). “Khả nǎng diệt phụ thuộc nồng độ” mô tả nguyên lý hiệu quả diệt khuẩn tǎng khi nồng độ tǎng. “PAE” biểu hiện khả nǎng ức chế sự phát triển vi khuẩn kéo dài nhiều giờ sau khi không còn phát hiện được nồng độ aminoglycosid. Cả hai hiện tượng này có thể được lợi dụng trong những phác đồ dùng liều cao cách quãng dài.

2.6 Các đặc điểm phân biệt/Phản ứng có hại: Các aminoglycosid có hoạt động và phản ứng có hại tương tự nhau. Hai phản ứng có hại nổi tiếng là gây độc cho tai và gây độc cho thận. Người ta cho rằng một số aminoglycosid, như neomycin và streptomycin gây độc cho tai nhiều hơn các thuốc khác, mặc dù chưa bao giờ có mối liên quan rõ ràng giữa nồng độ aminoglycosid huyết thanh và tiến triển của nhiễm độc ở tai. Mặc dù người ta cho rằng độc tính đối với tai của neomycin chủ yếu là ở ốc tai, còn streptomycin gây độc tiền đình, tất cả các aminoglycosid đều có khả nǎng gây những dạng nhiễm độc này. Nhiễm độc tai diễn ra sau khi sử dụng kéo dài và không thể hồi phục.

Nhiễm độc thận là một phản ứng có hại khác đã được mô tả kỹ với liệu pháp aminoglycosid. Aminoglycosid được hấp thu bởi hiện tượng thẩm bào trong các tế bào lót ống lượn gần, ở đây thuốc tập trung trong các lysosom. Vì không có cơ chế đào thải phức hợp aminoglycosid-lysosom nội bào, tế bào trương lên và vỡ ra. Hình như có mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ aminoglycosid huyết thanh với sự xuất hiện nhiễm độc thận hơn là với nhiễm độc tai. Nồng độ thuốc tǎng cao trong thời gian dài làm nặng thêm độc tính thận của aminoglycosid. Sự hấp thu thuốc của tế bào ống thận khi truyền aminoglycosid liên tục 24 giờ cao hơn so với dùng liều tương tự tiêm truyền trong 30 phút. Ngoài ra, hiệu quả có vẻ không bị ảnh hưởng khi dùng aminoglycosid liều cao cách quãng dài.Do những khác biệt lâm sàng giữa các aminoglycosid là rất ít, có lẽ chi phí vẫn là yếu tố có ý nghĩa trong việc chọn lựa thuốc.

Ba kháng sinh hiện hay dùng và có ý nghĩa nhất là: Streptomycin trong điều trị lao, Gentamycin và amikacin ( Selemycin). Liều dùng, người lớn cho 15mg/kg/24h ( với amikacin), 3-5mg/kg/24h ( với gentamycin và tobramycin). Khuyến cáo là dùng số lần trên ngày càng ít càng tốt, và số ngày dùng không quá 10 ngày. Vì vậy nên cho dùng một lần duy nhất trong ngày để hạn chê độc với co thể. Các thuốc thuộc nhóm này cần kiểm tra chức năng thận đều đặn trong quá tình điều trị.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s